Ý kiến đại biểu

Ưu tiên kiểm soát nguồn thải hiện hữu

Trang Nhung; Ảnh: Hồ Long • 07/11/2026 18:18

Góp ý vào dự thảo Luật Bảo vệ môi trường, ĐBQH Lã Thanh Tân (TP. Hải Phòng) đề nghị có cơ chế xử lý đối với những khu vực đã vượt hoặc có nguy cơ vượt khả năng chịu tải. Trong đó, ưu tiên kiểm soát nguồn thải hiện hữu, yêu cầu giảm tải lượng, cải thiện chất lượng môi trường và phục hồi các khu vực bị ô nhiễm.

Qua nghiên cứu dự thảo Luật Bảo vệ môi trường sau khi được chỉnh lý, tiếp thu ý kiến thảo luận tại Tổ, đại biểu Lã Thanh Tân cơ bản đồng tình với sự cần thiết sửa đổi Luật.

Tuy nhiên, đại biểu cho rằng hoàn thiện pháp luật về bảo vệ môi trường phải đồng thời bảo đảm hai yêu cầu: tạo lập môi trường pháp lý thuận lợi cho phát triển và thiết lập những giới hạn pháp lý cần thiết để ngăn ngừa, kiểm soát các tác động tiêu cực đến môi trường và cộng đồng.

ĐBQH Lã Thanh Tân (TP. Hải Phòng) phát biểu. Ảnh: Hồ Long
ĐBQH Lã Thanh Tân (TP. Hải Phòng). Ảnh: Hồ Long

“Theo tôi, cải cách thủ tục hành chính, phân cấp, phân quyền là phương thức đổi mới quản lý; còn bảo đảm chất lượng môi trường, phòng ngừa ô nhiễm và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người dân mới là mục tiêu cuối cùng cần đạt được. Việc đổi mới cơ chế quản lý phải được đặt trong yêu cầu bảo đảm phát triển bền vững, không đánh đổi chất lượng môi trường và sức khỏe nhân dân lấy tăng trưởng kinh tế trước mắt”, đại biểu nhấn mạnh.

Kiểm soát sức chịu tải theo từng thông số ô nhiễm

Về việc hoàn thiện cơ chế kiểm soát sức chịu tải môi trường và tổng lượng chất ô nhiễm, đại biểu đánh giá cao việc dự thảo đã quan tâm hơn đến quản lý môi trường theo lưu vực, vùng và sức chịu tải của môi trường. Đây là bước chuyển cần thiết từ tư duy quản lý từng nguồn thải riêng lẻ sang quản lý tổng thể chất lượng môi trường, khả năng tiếp nhận chất thải và mức độ tác động cộng dồn của các hoạt động phát triển.

Đặc biệt, đối với những khu vực đã tập trung nhiều khu công nghiệp, đô thị, cơ sở sản xuất và nguồn thải, việc kiểm soát từng cơ sở theo quy chuẩn riêng lẻ là cần thiết nhưng chưa đủ. Một cơ sở có thể đáp ứng quy chuẩn xả thải, nhưng khi tổng hợp với nhiều nguồn thải khác vẫn có thể làm nguồn nước hoặc khu vực môi trường vượt quá khả năng tiếp nhận. Do đó, kiểm soát tổng tải lượng chất ô nhiễm phải trở thành một căn cứ quan trọng trong quyết định đầu tư, thẩm định và cấp phép môi trường, đại biểu nhấn mạnh.

Trên cơ sở đó, đại biểu đề nghị quy định tại Điều 7 cần tiếp tục được hoàn thiện về nguyên tắc xác định và kiểm soát sức chịu tải theo từng thông số ô nhiễm chủ yếu. Trên thực tế, khả năng chịu tải của một nguồn nước không đồng nhất đối với tất cả các chất ô nhiễm. Có thể một dòng sông vẫn còn khả năng tiếp nhận đối với một số thông số, nhưng đã vượt hoặc gần đạt giới hạn chịu tải đối với một thông số khác.

“Điều này đặt ra một vấn đề có tính nguyên tắc: không thể lấy khả năng tiếp nhận còn lại của một số thông số ô nhiễm để bù trừ cho tình trạng đã hết khả năng chịu tải của thông số ô nhiễm khác. Quản lý tổng hợp theo lưu vực phải đi cùng với kiểm soát tải lượng cụ thể của những chất ô nhiễm có nguy cơ gây suy giảm chất lượng môi trường”, đại biểu nêu rõ.

Mặt khác, đại biểu đề nghị phân biệt giữa việc đáp ứng quy chuẩn kỹ thuật về chất lượng nước thải tại nguồn và việc bảo đảm chất lượng môi trường tại nơi tiếp nhận. Đây là hai yêu cầu có liên quan nhưng không đồng nhất. Việc một dự án đáp ứng quy chuẩn xả thải không có nghĩa là dự án đó đương nhiên được phép gia tăng tải lượng chất ô nhiễm khi nguồn tiếp nhận đã hết khả năng chịu tải.

Vì vậy, đại biểu đề nghị chỉnh lý Điều 7 theo 4 hướng:

Thứ nhất, bổ sung nguyên tắc xác định sức chịu tải và khả năng tiếp nhận chất thải theo từng thông số ô nhiễm chủ yếu, gắn với từng đoạn sông, lưu vực hoặc khu vực môi trường cụ thể. Việc đánh giá phải xác định được tổng tải lượng chất ô nhiễm được phép tiếp nhận, tải lượng hiện hữu và khả năng tiếp nhận còn lại, làm cơ sở kiểm soát các nguồn thải mới và nguồn thải hiện hữu.

Thứ hai, quy định rõ trường hợp một thông số ô nhiễm đã hết khả năng tiếp nhận thì không cho phép dự án mới hoặc dự án mở rộng làm gia tăng tổng tải lượng của thông số đó vào môi trường tiếp nhận. Việc xem xét ngoại lệ, nếu có, phải gắn với giải pháp xử lý, tái sử dụng, tuần hoàn hoặc giảm tải lượng thực tế có thể kiểm chứng; không chỉ căn cứ vào cam kết của chủ dự án hoặc công suất thiết kế của công trình xử lý.

Thứ ba, bổ sung trách nhiệm của cơ quan quản lý nhà nước trong việc định kỳ đánh giá, cập nhật và công khai thông tin về sức chịu tải, tổng tải lượng chất ô nhiễm và khả năng tiếp nhận còn lại của các nguồn nước, khu vực môi trường có nguy cơ ô nhiễm cao. Thông tin này cần được sử dụng làm căn cứ trong quy hoạch, quyết định chủ trương đầu tư, thẩm định dự án và cấp phép môi trường.

Thứ tư, có cơ chế xử lý đối với những khu vực đã vượt hoặc có nguy cơ vượt khả năng chịu tải. Trong đó, ưu tiên kiểm soát nguồn thải hiện hữu, yêu cầu giảm tải lượng, cải thiện chất lượng môi trường và phục hồi các khu vực bị ô nhiễm; tránh tình trạng chỉ kiểm soát dự án mới mà không có giải pháp xử lý các nguồn ô nhiễm đang tồn tại.

1793929364245_8419765555473197238_g2874840234426615690_a97638d32b1b26fd3be7eace0657b538.jpg
Các đại biểu Đoàn TP. Hải Phòng dự phiên thảo luận tại Kỳ họp thứ Hai, Ưin13 Nổ Hũ khóa XVI. Ảnh: Hồ Long

Đại biểu nhấn mạnh, đây là vấn đề cần được quy định rõ trong Luật, không nên chỉ dừng ở việc giao cơ quan quản lý hướng dẫn về mặt kỹ thuật. Bởi sức chịu tải môi trường không chỉ là một chỉ tiêu chuyên môn mà còn là giới hạn pháp lý đối với việc khai thác, sử dụng tài nguyên môi trường và tiếp nhận chất thải từ các hoạt động phát triển kinh tế.

Một khi giới hạn chịu tải đã được xác định, mọi quyết định đầu tư và hoạt động xả thải phải được xem xét trong giới hạn đó. Đây là cách tiếp cận cần thiết để bảo đảm công bằng giữa các chủ thể sử dụng môi trường, bảo vệ lợi ích của cộng đồng dân cư và không chuyển chi phí ô nhiễm của hoạt động phát triển hôm nay sang các thế hệ mai sau.

Gắn trách nhiệm quản lý với khả năng tiếp nhận của môi trường

Đồng tình với chủ trương đẩy mạnh phân cấp, phân quyền trong quản lý môi trường, nâng cao tính chủ động, trách nhiệm của chính quyền địa phương, đại biểu lưu ý quản lý môi trường có đặc điểm đặc thù: phạm vi lan truyền của ô nhiễm không bị giới hạn bởi địa giới hành chính. Một dự án có thể được triển khai hoàn toàn trong địa bàn một tỉnh nhưng nước thải, khí thải hoặc các tác động đến hệ sinh thái lại ảnh hưởng trực tiếp đến địa phương khác.

Đối với các lưu vực sông liên tỉnh, khu vực ven biển, vùng sinh thái liên kết, việc xác định thẩm quyền quản lý chỉ căn cứ vào địa điểm thực hiện hoặc phạm vi hoạt động của dự án có thể chưa phản ánh đầy đủ phạm vi tác động môi trường.

Dự thảo đã bổ sung tiêu chí về phạm vi hoạt động của dự án trong việc xác định thẩm quyền thẩm định, cấp phép tại Điều 35 và Điều 41. Đây là hướng tiếp cận cần thiết. Tuy nhiên, theo đại biểu, cần phân biệt rõ giữa phạm vi thực hiện dự án và phạm vi tác động môi trường của dự án, bởi hai phạm vi này không phải lúc nào cũng trùng nhau.

“Nếu một dự án nằm trong địa giới hành chính của tỉnh A nhưng có nguy cơ làm suy giảm chất lượng nguồn nước tại tỉnh B, thì việc chỉ giao tỉnh A quyết định và quản lý mà không có cơ chế để tỉnh B tham gia, giám sát và yêu cầu xử lý sẽ đặt ra khoảng trống về trách nhiệm. Xổ Số Ưin13 chịu tác động có thể phải gánh chịu hậu quả nhưng lại không có đủ công cụ pháp lý để bảo vệ lợi ích hợp pháp của người dân và môi trường trên địa bàn”, đại biểu Lã Thanh Tân phân tích.

Từ đó, đại biểu đề nghị chỉnh lý Điều 35 và Điều 41 theo 5 hướng:

Thứ nhất, bổ sung tiêu chí xác định thẩm quyền thẩm định, cấp phép theo phạm vi và mức độ tác động môi trường của dự án, bên cạnh tiêu chí về địa điểm, phạm vi hoạt động, loại hình và mức độ rủi ro; tính đến các trường hợp dự án có khả năng gây tác động liên tỉnh, liên vùng, liên lưu vực hoặc ảnh hưởng đến khu vực biển, hệ sinh thái có tính liên kết.

Thứ hai, quy định cơ chế bắt buộc lấy ý kiến của địa phương chịu tác động đối với dự án có nguy cơ ảnh hưởng đáng kể đến môi trường ngoài địa giới hành chính nơi thực hiện dự án. Việc lấy ý kiến phải được thực hiện thực chất, có đủ thông tin về dự báo tác động, phương án phòng ngừa và xử lý ô nhiễm. Cơ quan có thẩm quyền cần giải trình việc tiếp thu hoặc không tiếp thu ý kiến của địa phương chịu tác động, nhất là đối với những ý kiến liên quan trực tiếp đến an toàn môi trường và sức khỏe cộng đồng.

Thứ ba, xác định rõ vai trò điều phối của cơ quan quản lý nhà nước ở Trung ương đối với các dự án có tác động liên tỉnh, liên vùng hoặc trường hợp phát sinh bất đồng giữa các địa phương về phạm vi ảnh hưởng, biện pháp kiểm soát và trách nhiệm xử lý ô nhiễm. Việc điều phối cần tập trung vào những trường hợp thực sự vượt quá khả năng quản lý của một địa phương, không làm phát sinh cơ chế xin - cho hoặc tập trung hóa không cần thiết.

Thứ tư, bổ sung nguyên tắc phối hợp giữa địa phương nơi phát sinh nguồn thải và địa phương chịu tác động trong quá trình giám sát, kiểm tra, ứng phó sự cố và xử lý ô nhiễm sau khi dự án được cấp phép; làm rõ trách nhiệm trao đổi thông tin, phối hợp kiểm tra, xử lý cảnh báo và yêu cầu chủ nguồn thải khắc phục hậu quả khi có dấu hiệu tác động vượt ra ngoài phạm vi một địa phương.

Thứ năm, gắn trách nhiệm của cơ quan cấp phép với trách nhiệm theo dõi, giám sát việc thực hiện các yêu cầu về bảo vệ môi trường sau cấp phép; đồng thời xác định trách nhiệm phối hợp của địa phương chịu tác động, tránh tình trạng cơ quan cấp phép hoàn thành trách nhiệm khi ban hành quyết định, còn địa phương chịu ảnh hưởng lại lúng túng trong việc yêu cầu kiểm tra, xử lý khi ô nhiễm phát sinh.

“Tôi cho rằng, phân cấp, phân quyền phải được thực hiện trên cơ sở xác định đúng phạm vi quản lý và phạm vi chịu trách nhiệm. Không thể để một địa phương có quyền quyết định đối với dự án nhưng địa phương khác lại phải gánh chịu hậu quả môi trường mà không có cơ chế tham gia và bảo vệ lợi ích chính đáng của mình”, đại biểu nhấn mạnh.

Đặc biệt, cần bảo đảm người dân tại địa phương chịu tác động có quyền được tiếp cận thông tin, được thông báo về nguy cơ môi trường và được bảo vệ thông qua cơ chế giám sát, phản ánh, kiến nghị và xử lý kịp thời. Đây không chỉ là yêu cầu về phối hợp hành chính mà còn là yêu cầu bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người dân trong quá trình thực thi pháp luật về bảo vệ môi trường.

Đại biểu Lã Thanh Tân đề nghị thể hiện rõ nguyên tắc: quản lý môi trường phải theo phạm vi tác động thực tế; thẩm quyền phải gắn với trách nhiệm; địa phương chịu ảnh hưởng phải có cơ chế tham gia thực chất; và cơ quan nhà nước có thẩm quyền phải chịu trách nhiệm đến cùng đối với hiệu quả quản lý trong phạm vi được giao.

Trang Nhung; Ảnh: Hồ Long