Thử nghiệm công nghệ biển - hướng đi cần thiết
Góp ý vào dự thảo Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo (sửa đổi) tại Tổ 9 (Đoàn ĐBQH tỉnh Ninh Bình và thành phố Huế), các đại biểu khẳng định việc thử nghiệm công nghệ biển mới là hướng đi cần thiết, song phải được xác định rõ giới hạn pháp lý về phạm vi, thời hạn và thẩm quyền. Đổi mới sáng tạo cần được khuyến khích nhưng không thể đồng nghĩa với việc phát sinh miễn trừ nghĩa vụ bảo vệ môi trường hay chuyển rủi ro sang cộng đồng.

Tiếp tục chương trình kỳ họp, sáng 24/10, Ưin13 Nổ Hũ thảo luận tại Tổ về dự án Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo (sửa đổi); dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Bảo vệ môi trường; dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đầu tư.
Quy định rõ về trách nhiệm bảo vệ môi trường nước lưu vực sông liên tỉnh
Cho ý kiến về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Bảo vệ môi trường, ĐBQH Phạm Hùng Thắng (Ninh Bình) đề nghị, quy định rõ về trách nhiệm bảo vệ môi trường nước lưu vực sông liên tỉnh và cơ chế phối hợp giữa địa phương thượng nguồn, hạ lưu tại khoản 5 Điều 1 dự thảo, sửa đổi bổ sung khoản 2 và khoản 3 Điều 7 của Luật Bảo vệ môi trường.

Cụ thể, cơ quan soạn thảo rà soát, bổ sung nguyên tắc quản lý môi trường nước theo lưu vực sông liên tỉnh theo hướng: xác định rõ trách nhiệm cơ quan Trung ương trong điều phối chương trình kiểm soát và phục hồi chất lượng nước đối với các lưu vực ô nhiễm nghiêm trọng; quy định trách nhiệm của địa phương thượng nguồn trong kiểm soát nguồn thải và cung cấp dữ liệu; bảo đảm quyền tham gia, kiến nghị và tiếp nhận thông tin của địa phương hạ lưu.
Đại biểu đề nghị, làm rõ giá trị pháp lý của thông báo kết quả thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường. Theo đó, tại khoản 7, điều 34 dự thảo Luật quy định công nhận giá trị pháp lý tương đương giữa một số văn bản thông báo kết quả thẩm định và quyết định phê duyệt kết quả thẩm định.

Tán thành mục tiêu nhằm giảm thủ tục trung gian, tuy nhiên, đại biểu cho rằng hai loại văn bản này có thể khác nhau về nội dung, điều kiện và thời điểm phát sinh hiệu lực. Nếu luật chỉ quy định “tương đương” mà không xác định rõ điều kiện áp dụng, thì doanh nghiệp có thể hiểu rằng mọi thông báo đều đủ căn cứ triển khai dự án; trong khi cơ quan quản lý lại có thể tiếp tục yêu cầu một quyết định khác. Hệ quả là vừa phát sinh tranh chấp pháp lý, vừa làm mất ý nghĩa cải cách thủ tục hành chính.
Do đó, đại biểu đề nghị quy định rõ các trường hợp, nội dung bắt buộc và thời điểm văn bản thông báo có giá trị thay thế quyết định phê duyệt. Chỉ thông báo xác nhận đã hoàn thành việc thẩm định, đáp ứng điều kiện luật định mới có hiệu lực tương đương. Đồng thời, chỉnh lý Điều 37 để xác định thống nhất thời điểm bắt đầu thực hiện nghĩa vụ của chủ dự án.
Đại biểu Phạm Hùng Thắng cũng đề nghị đánh giá đầy đủ tác động môi trường của dự án được chia thành các dự án thành phần. Việc cho phép lập và thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường đối với từng dự án thành phần là cần thiết để tháo gỡ vướng mắc cho đầu tư phân kỳ. Tuy nhiên, một dự án lớn có thể có nhiều hạng mục cùng khai thác nguồn nước, cùng xả thải vào một lưu vực hoặc cùng tác động đến một khu dân cư.
Đại biểu bày tỏ, nếu chỉ xem xét từng dự án thành phần một cách tách biệt, tổng lượng phát thải và tác động cộng hưởng có thể bị đánh giá thấp. Khi đó, thủ tục được đơn giản hóa nhưng trách nhiệm đánh giá tác động của dự án tổng thể lại chưa được bảo đảm. Vấn đề cốt lõi không phải là buộc mọi dự án thành phần phải lập chung một báo cáo, mà là bảo đảm cơ quan thẩm định có đầy đủ thông tin để đánh giá rủi ro tổng thể.
Do đó, đại biểu đề nghị bổ sung vào Điều 32 nguyên tắc: “Việc đánh giá tác động môi trường đối với dự án thành phần, dự án thành phần độc lập hoặc phân kỳ đầu tư phải xem xét tác động tích lũy, tác động tương hỗ với các hạng mục còn lại của dự án tổng thể và các dự án có liên quan trong cùng khu vực chịu tác động”. Đồng thời, quy định trách nhiệm chủ đầu tư cung cấp thông tin tổng thể; cơ quan thẩm định được sử dụng, chia sẻ kết quả đã có, không yêu cầu lập lại nội dung đã được đánh giá hợp lệ.
Quy định rõ các dự án đầu tư theo phân kỳ phải có đánh giá tác động môi trường khung
Cùng quan điểm trên, ĐBQH Nguyễn Tiến Hùng (TP. Huế) đánh giá, cơ chế phân kỳ đánh giá tác động môi trường cho phép thực hiện đánh giá tác động môi trường theo từng giai đoạn đầu tư, là bước tiến tích cực, giúp doanh nghiệp chủ động nguồn vốn đối với các dự án hạ tầng, công nghiệp quy mô lớn, triển khai trong thời gian dài.

Tuy nhiên, để tránh tình trạng cố tình chia nhỏ dự án nhằm hạ thấp yêu cầu thẩm định đánh giá tác động môi trường, hoặc chuyển trách nhiệm thẩm định từ cơ quan cấp bộ xuống UBND cấp tỉnh, đại biểu đề nghị quy định rõ các dự án đầu tư theo phân kỳ phải có đánh giá tác động môi trường khung cho toàn bộ dự án ngay từ giai đoạn đầu. Đối với các giai đoạn tiếp theo, chủ đầu tư chỉ cần lập báo cáo đánh giá tác động môi trường bổ sung đối với những hạng mục có điều chỉnh, bổ sung.

Đồng thời, cần bổ sung chế tài nghiêm khắc đối với trường hợp cố tình chia nhỏ dự án để né tránh thẩm quyền thẩm định, qua đó bảo đảm việc đánh giá tác động môi trường được thực hiện đầy đủ, toàn diện đối với dự án tổng thể.
Đối với quy định về cắt giảm thủ tục cấp phép môi trường, đại biểu Nguyễn Tiến Hùng đồng tình với việc bãi bỏ thủ tục cấp đổi giấy phép môi trường và thu hẹp các trường hợp phải cấp lại giấy phép. Tuy nhiên, theo đại biểu, quy định hiện hành chưa thực sự tạo động lực cho doanh nghiệp chủ động đầu tư, cải tiến công nghệ nhằm giảm lượng chất thải phát sinh.
Do đó, đại biểu đề nghị bổ sung quy định theo hướng, đối với trường hợp doanh nghiệp cải tiến công nghệ làm giảm lượng phát thải, doanh nghiệp chỉ cần gửi thông báo kèm kết quả kiểm định cho cơ quan cấp phép, không phải lập hồ sơ điều chỉnh hoặc thực hiện thủ tục cấp lại giấy phép môi trường. Quy định này sẽ góp phần khuyến khích doanh nghiệp đổi mới công nghệ theo hướng sạch hơn, giảm phát thải, đồng thời tiếp tục đơn giản hóa thủ tục hành chính trong lĩnh vực môi trường.
Cơ chế thử nghiệm công nghệ biển phải rõ giới hạn, tránh rủi ro pháp lý kéo dài
Góp ý hoàn thiện quy định về xác định giới hạn pháp lý của cơ chế thử nghiệm có kiểm soát công nghệ biển tại khoản 6 Điều 40 và khoản 7 Điều 42, ĐBQH Nguyễn Thị Sửu (TP. Huế) đề nghị phân biệt chấm dứt ưu đãi cho thời gian còn lại với thu hồi khoản ưu đãi đã hưởng. Việc thu hồi chỉ nên áp dụng khi có căn cứ rõ ràng, như gian lận, giả mạo hồ sơ hoặc sử dụng hỗ trợ sai mục đích; không để các quy định quá rộng làm phát sinh rủi ro pháp lý kéo dài cho nhà đầu tư.

Đối với khoản 4 (mô hình kinh tế biển mới, công nghệ biển mới) và khoản 6 Điều 44, đại biểu cho rằng, cơ chế thử nghiệm phải có giới hạn về phạm vi, thời hạn, cấu phần được thử nghiệm, tiêu chí đánh giá rủi ro và thẩm quyền tạm dừng, chấm dứt. Luật cần chỉ rõ trường hợp được thử nghiệm khác quy định hiện hành; không giao thẩm quyền mở để phát sinh miễn trừ ngoài giới hạn của Ưin13 Nổ Hũ. Thử nghiệm công nghệ không thể đồng nghĩa với miễn nghĩa vụ phòng ngừa, ứng phó sự cố và phục hồi môi trường.
Đại biểu cũng đề nghị tại khoản 1 đến khoản 3 Điều 45 dự thảo Luật, cần làm rõ Quỹ không gian biển là tập hợp các khu vực đã điều tra, đánh giá, xác định ranh giới và mục đích sử dụng; việc đưa vào danh mục không tự tạo quyền ưu tiên hay độc quyền cho nhà đầu tư.

Cũng cho ý kiến về quy định tại khoản 1, khoản 5 và khoản 6 Điều 44 của dự thảo Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo (sửa đổi), đại biểu Phạm Hùng Thắng cho rằng, thử nghiệm công nghệ mới trong lĩnh vực biển là hướng đi cần thiết để phát triển kinh tế biển hiện đại. Tuy nhiên, quy định cho phép thử nghiệm công nghệ biển mới, mô hình kinh tế biển mới khác pháp luật hiện hành phải được xem xét thận trọng. Nếu không xác định phạm vi quy định được áp dụng khác; thẩm quyền quyết định và cơ chế bảo vệ người bị ảnh hưởng thì cơ chế thử nghiệm có thể bị hiểu thành quy định miễn trừ nghĩa vụ bảo vệ môi trường hoặc trách nhiệm bồi thường. Đổi mới sáng tạo phải được khuyến khích nhưng không thể chuyển toàn bộ rủi ro từ việc thử nghiệm sang cộng đồng và hệ sinh thái biển.
Do đó, đại biểu đề nghị bổ sung nguyên tắc: Quyết định cho phép thử nghiệm phải chỉ rõ căn cứ pháp lý; nội dung được áp dụng khác pháp luật; phạm vi, thời hạn, biện pháp giám sát và điều kiện chấm dứt thử nghiệm. 13Vim Nổhũ thực hiện thử nghiệm phải có nguồn lực ứng phó, khắc phục, phục hồi môi trường; không loại trừ quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại hợp pháp của bên thứ ba. Những nội dung cụ thể giao Chính phủ quy định chi tiết.