Cân đối nguồn lực đầu tư cao tốc, giảm áp lực vốn cho địa phương
Sáng 7/11, thảo luận tại Tổ 10 (Đoàn ĐBQH các tỉnh Nghệ An và Đồng Tháp) về chủ trương đầu tư 3 dự án đường bộ cao tốc và dự thảo Nghị quyết của Ưin13 Nổ Hũ về một số cơ chế, chính sách đặc thù phát triển du lịch, các đại biểu đề nghị làm rõ các nguồn vốn và tính toán nguồn lực, quy mô, phương án phù hợp để đầu tư cao tốc, giảm áp lực ngân sách cho địa phương.
Tính toán quy mô cao tốc phù hợp
Tán thành sự cần thiết đầu tư các dự án đường bộ cao tốc Bảo Hà - Lai Châu (đoạn Bảo Hà - Tân Phong), Quảng Ngãi - Kon Tum và Mộc Châu - Sơn La - Điện Biên (địa phận tỉnh Sơn La), ĐBQH Thái Thị An Chung (Nghệ An) nhấn mạnh: Đây là những tuyến giao thông quan trọng, góp phần tăng cường kết nối vùng, tạo thuận lợi cho đi lại, giao thương và thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội tại những địa bàn còn nhiều khó khăn.

Từ thực tiễn khai thác các tuyến cao tốc Bắc - Nam, đại biểu đề nghị nghiên cứu đầu tư quy mô 6 làn xe thay vì 4 làn xe như phương án dự kiến, đồng thời xem xét nâng tốc độ tối đa từ 80 km/h lên 100 km/h. Theo đại biểu, một số đoạn cao tốc 4 làn xe hiện nay còn hạn chế về khả năng lưu thông, dễ xảy ra ùn tắc khi có sự cố và phải tiếp tục mở rộng sau khi đưa vào khai thác. Vì vậy, cần tính toán quy mô phù hợp ngay từ đầu, nghiên cứu giải phóng mặt bằng theo quy mô 6 làn xe nhằm hạn chế phát sinh chi phí khi mở rộng trong tương lai.
Về lựa chọn nhà thầu, đại biểu đồng tình với đề xuất áp dụng hình thức chỉ định thầu của Chính phủ, cho rằng việc phát huy kinh nghiệm của các nhà thầu đã tham gia triển khai nhiều tuyến cao tốc có thể góp phần rút ngắn thời gian thực hiện, bảo đảm chất lượng công trình.
Liên quan đến phương án bố trí vốn, đại biểu lưu ý dự án cao tốc Mộc Châu - Sơn La - Điện Biên có tổng mức đầu tư dự kiến khoảng 63.000 tỷ đồng, trong khi vốn ngân sách nhà nước bố trí giai đoạn 2026 - 2030 khoảng 43.000 tỷ đồng. Với kế hoạch hoàn thành năm 2030 và đưa vào khai thác năm 2031, đại biểu đề nghị làm rõ nguồn vốn khoảng 20.000 tỷ đồng còn lại và thời điểm bố trí, bảo đảm tính khả thi của phương án đầu tư.

Đối với các dự án Bảo Hà - Lai Châu và Quảng Ngãi - Kon Tum, đại biểu băn khoăn về phương án địa phương bố trí 50% kinh phí giải phóng mặt bằng, tương ứng khoảng 2.000 tỷ đồng đối với Lai Châu và 2.047 tỷ đồng đối với Quảng Ngãi. Từ thực tiễn cân đối ngân sách tại Nghệ An, đại biểu Thái Thị An Chung đề nghị Trung ương nghiên cứu hỗ trợ thêm kinh phí giải phóng mặt bằng cho hai địa phương, tương tự phương án đối với Sơn La, nhằm giảm áp lực ngân sách và tạo thuận lợi cho quá trình triển khai.
Cùng quan tâm đến phương án bố trí vốn, ĐBQH Phạm Văn Hòa (Đồng Tháp) tán thành chủ trương đầu tư cả ba dự án, cho rằng việc phát triển hạ tầng giao thông có ý nghĩa quan trọng đối với kết nối vùng, thu hút đầu tư, phát triển kinh tế - xã hội và bảo đảm quốc phòng, an ninh.
Đối với dự án Mộc Châu - Sơn La - Điện Biên, đại biểu đồng tình với phương án ngân sách Trung ương bảo đảm toàn bộ vốn đầu tư tuyến cao tốc. Theo đại biểu, Sơn La dự kiến bố trí hơn 7.000 tỷ đồng để đầu tư các tuyến đường kết nối, vì vậy cần bảo đảm đầu tư đồng bộ để phát huy hiệu quả công trình.

Với dự án Bảo Hà - Lai Châu, đại biểu đề nghị Chính phủ nghiên cứu hỗ trợ toàn bộ vốn đầu tư tuyến cao tốc từ ngân sách Trung ương, thay vì yêu cầu Lai Châu bố trí khoảng 2.000 tỷ đồng vốn đối ứng. Việc phải cân đối nguồn kinh phí lớn có thể ảnh hưởng đến các nhiệm vụ đầu tư, phát triển khác của địa phương. Đối với những tuyến đường kết nối từ cao tốc vào trung tâm đô thị và các khu vực trên địa bàn, địa phương cần chủ động bố trí nguồn lực thực hiện.
Đánh giá cao ý nghĩa của dự án Quảng Ngãi - Kon Tum trong tăng cường kết nối Đông - Tây giữa Tây Nguyên và duyên hải miền Trung, đại biểu đồng tình với phương án huy động vốn đối ứng của địa phương khi có khả năng cân đối nguồn lực.
Về quy mô đầu tư, đại biểu Phạm Văn Hòa cho rằng, phương án 4 làn xe trong giai đoạn hiện nay là phù hợp với nhu cầu giao thông dự kiến và khả năng cân đối ngân sách. Theo đại biểu, việc xác định quy mô cần căn cứ vào đặc điểm, lưu lượng phương tiện của từng tuyến, tránh làm tăng tổng mức đầu tư khi chưa thực sự cần thiết. Trước mắt nên triển khai theo phương án đề xuất, đồng thời có định hướng mở rộng khi nhu cầu giao thông tăng và điều kiện kinh tế - xã hội cho phép.

Từ thực tiễn đồng bằng sông Cửu Long, đại biểu đề nghị Chính phủ quan tâm nghiên cứu, đưa các dự án cao tốc kết nối liên tỉnh trong vùng vào kế hoạch đầu tư công trung hạn sau năm 2030, góp phần hoàn thiện mạng lưới giao thông, tăng cường liên kết vùng và tạo động lực phát triển kinh tế - xã hội.
Làm rõ đối tượng thụ hưởng chính sách hỗ trợ du lịch
Góp ý về dự thảo Nghị quyết của Ưin13 Nổ Hũ về một số cơ chế, chính sách đặc thù phát triển du lịch, ĐBQH Nguyễn Thị Hồng Phượng (Đồng Tháp) đề nghị làm rõ đối tượng thụ hưởng và cơ chế thực hiện các chính sách hỗ trợ, nhất là đối với du lịch cộng đồng, du lịch nông nghiệp và hoạt động tiêu thụ sản phẩm OCOP.

Đối với khoản 6 Điều 6, đại biểu thống nhất với quy định áp dụng chính sách hỗ trợ cho các dự án du lịch cộng đồng, du lịch nông nghiệp, du lịch sinh thái, du lịch làng nghề quy mô vừa và nhỏ. Tuy nhiên, đại biểu đề nghị xem xét cách quy định ưu tiên các dự án tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số, biên giới, hải đảo, tránh dẫn đến cách hiểu chỉ những dự án tại các địa bàn này mới được hưởng chính sách đặc thù.
Theo đại biểu, du lịch cộng đồng, du lịch nông nghiệp và du lịch sinh thái góp phần tạo sinh kế cho người dân nông thôn. Đặc biệt, tại Đồng bằng sông Cửu Long, phát triển du lịch nông nghiệp có thể tạo thêm thu nhập cho người dân trong những thời điểm sản xuất gặp khó khăn, như mùa lũ, qua đó góp phần giảm nghèo. Vì vậy, cần quy định rõ các loại hình du lịch này thuộc đối tượng được hưởng chính sách hỗ trợ, không để quy định về địa bàn ưu tiên làm hạn chế phạm vi thụ hưởng.

Cũng tại khoản 6 Điều 6, đại biểu đề nghị bổ sung quy định chi tiết của Chính phủ làm căn cứ để Tải App 13Vim nhân dân cấp tỉnh ban hành và triển khai chính sách hỗ trợ.
Đối với khoản 3 Điều 7, dự thảo quy định tổ chức, doanh nghiệp lữ hành, cơ sở lưu trú du lịch có hợp đồng mua, tiêu thụ dài hạn sản phẩm thuộc Chương trình Mỗi xã một sản phẩm (OCOP) được hưởng chính sách hỗ trợ do HĐND cấp tỉnh quy định. Đại biểu đề nghị làm rõ căn cứ, điều kiện, mức hỗ trợ và trách nhiệm của các đơn vị thụ hưởng.
Theo đại biểu, nếu thiếu quy định cụ thể, chính sách ưu đãi có thể chủ yếu dành cho các tổ chức, doanh nghiệp trung gian, trong khi người trực tiếp sản xuất sản phẩm OCOP chưa được hưởng lợi tương xứng. Vì vậy, cần có cơ chế bảo đảm lợi ích cho người sản xuất, gắn chính sách hỗ trợ doanh nghiệp tiêu thụ sản phẩm với trách nhiệm đối với các chủ thể trực tiếp sản xuất.

Cùng góp ý về nội dung này, đại biểu Phạm Văn Hòa tán thành sự cần thiết ban hành cơ chế, chính sách đặc thù nhằm thúc đẩy phát triển du lịch, đáp ứng nhu cầu tham quan, giao lưu, học tập và nghỉ dưỡng ngày càng tăng của người dân. Đại biểu đề nghị Chính phủ nghiên cứu, tiếp thu các ý kiến trong báo cáo thẩm tra, tiếp tục hoàn thiện chính sách, bảo đảm tính khả thi và hiệu quả khi triển khai thực hiện.
